Tĩnh tâm Mùa Chay: Đức cha Varden suy tư về việc truyền thông niềm hy vọng

Tĩnh tâm Mùa Chay: Đức cha Varden suy tư về việc truyền thông niềm hy vọng

Tĩnh tâm Mùa Chay: Đức cha Varden suy tư về việc truyền thông niềm hy vọng

Tác giả: Đức cha Erik Varden, OCSO

Cao Trí (TGPSG) biên dịch từ Vatican News

TGPSG/Vatican News -- Đức cha Erik Varden trình bày bài suy niệm thứ mười một và cũng là bài cuối cùng trong Tuần Tĩnh tâm tại Vatican dành cho Đức Thánh Cha Lêô XIV, cho các Hồng y cư ngụ tại Rôma và các vị đứng đầu các Bộ, xoay quanh chủ đề “Truyền Thông Niềm Hy Vọng”. Sau đây là bản tóm lược bài suy niệm của ngài.

Ngày 11-10-1962, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII long trọng khai mạc Công đồng chung Vaticanô II. Ngài khẳng định rằng “mối bận tâm lớn lao nhất” của Công đồng là “bảo vệ và trình bày cách hữu hiệu hơn kho tàng thánh thiêng của giáo lý Kitô giáo. Giáo lý ấy bao trùm toàn thể con người, gồm cả thân xác và linh hồn; và mời gọi chúng ta, những lữ khách trên trần thế, hướng về quê hương trên trời.”

Chưa đầy một tuần sau bài diễn văn của Đức Giáo hoàng, cuộc Khủng hoảng Tên lửa Cuba bùng nổ. Nhân loại dường như đứng trước nguy cơ tự hủy diệt ngay trong hành trình dương thế của mình, mà không còn nghĩ đến cùng đích cánh chung. Khi những vết thương của Thế chiến thứ hai vẫn còn nhức nhối, loài người lại mở ra những viễn cảnh kinh hoàng mới của sự tự hủy.

Một bầu khí bấp bênh bao trùm Công đồng; đồng thời, thời kỳ ấy cũng tràn đầy những hy vọng nồng nhiệt về một xã hội mới được xây dựng trên nền tảng nhân quyền, thương mại công bằng và những tiến bộ kỹ thuật.

Công đồng mong muốn lên tiếng trước những “câu hỏi đầy ưu tư của thời đại về xu hướng hiện tại của thế giới, về vị trí và vai trò của con người trong vũ trụ, về ý nghĩa những nỗ lực của con người, và về vận mệnh tối hậu của thực tại và của nhân loại”.

Công đồng không chỉ nêu lên các vấn đề, nhưng còn chỉ ra hướng giải đáp, khi loan báo rằng Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh chính là hiện thân tương lai của nhân loại.

Công đồng trao cho Giáo hội sứ mạng trình bày Đức Kitô sao cho Người xuất hiện cách rõ ràng và đầy sức thuyết phục như lời đáp cho những vấn đề cấp bách nhất của thời đại, mà không hề làm tổn hại đến kho tàng thánh thiêng của đức tin.

Chúng ta có thể tự hỏi liệu trong 60 năm kể từ khi Công đồng bế mạc, niềm tín thác vào sức mạnh và hiệu năng của kho tàng đức tin ấy có luôn được gìn giữ mọi nơi hay không.

Mỗi thế hệ Kitô hữu được mời gọi tự xét mình trước sự đối nghịch mà thánh Phaolô nêu lên với tín hữu Êphêsô: giữa tầm vóc viên mãn của Đức Kitô được biểu lộ trong sự hiệp nhất đức tin và nhận biết, trong sự trưởng thành thiêng liêng, và tình trạng ấu trĩ bị cuốn theo đây đó, bị lay chuyển bởi những luồng giáo thuyết, khi thì bởi mưu mô xảo quyệt, khi thì bởi toan tính tinh vi, khi lại bởi một thứ lạc quan dễ dãi.

Đức Kitô kêu gọi chúng ta truyền thông niềm hy vọng cho thế giới. Có niềm hy vọng Kitô giáo không đồng nghĩa với thái độ lạc quan đơn thuần. Người Kitô hữu từ bỏ những ảo tưởng viển vông, và can đảm chọn lựa thực tại.

Những kẻ mị dân hứa hẹn rằng mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Họ tự nhận có quyền năng gần như tạo hóa để biến đổi cộng đồng chỉ trong một nhiệm kỳ, đánh lạc hướng quần chúng khỏi những thất vọng đang cảm nhận bằng bánh phát không, vé xem trò vui và việc bôi nhọ đối thủ.

Lời của Đức Kitô hoàn toàn khác biệt. Người nói: “Người nghèo thì anh em luôn có bên mình.” Người khẳng định rằng dân này sẽ nổi lên chống dân kia; những cuộc bách hại sẽ xảy đến; kẻ thù của một người có thể chính là người trong gia đình mình. Những lời ấy không hàm chứa sự buông xuôi yếu nhược. Trái lại, Chúa buộc chúng ta, những môn đệ của Người, không ngừng nỗ lực vì một nhân loại mới, lành mạnh, được hình thành trong đức ái và công lý.

Người truyền dạy chúng ta: “Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, thanh tẩy người phong hủi, và trừ quỷ.” Chúng ta được mời gọi thực thi các mối phúc, để vinh quang ẩn giấu nơi đó được tỏa sáng. Nhưng trong mọi sự, chúng ta luôn được nhắc nhớ: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.”

Đức Kitô là ánh sáng muôn dân - Lumen Gentium. Chỉ mình Người, khi thi hành thánh ý Chúa Cha và hành động trong Thánh Thần, mới có thể canh tân bộ mặt địa cầu. Nơi Người, chúng ta đặt trọn niềm tín thác, chứ không nơi những chiến lược tạm thời chóng qua.

Người có thể hành động qua chúng ta nếu chúng ta chấp nhận học lấy sự kiên nhẫn. Mùa Chay cho thấy rằng Thiên Chúa, khi mang lấy vết thương của tình yêu tự hiến, lại hoạt động mãnh liệt nhất trong cuộc Thương Khó của Người. Niềm hy vọng Người trao phó cho chúng ta không phải là hy vọng vào một “thung lũng lệ sầu” được hiện đại hóa, số hóa hay làm cho tiện nghi hơn. Niềm hy vọng của chúng ta đặt nơi trời mới đất mới, nơi sự phục sinh của kẻ chết.

Thời đại của chúng ta đang khao khát được nghe loan báo niềm hy vọng ấy. Chúng ta đã xem xét một số dấu hiệu xung quanh mình: sự thức tỉnh tôn giáo mới mẻ nơi người trẻ; sự trở lại của phạm trù chân lý trong diễn ngôn công cộng; cuộc tìm kiếm cội nguồn.

Các định chế và liên minh toàn cầu đang rạn nứt. Chúng ta phải đối diện với những hiểm họa chiến lược, sinh thái và ý thức hệ. Trong bối cảnh bất định ấy, thật tự nhiên khi những con người thiện chí và tỉnh thức tự hỏi điều gì có thể đứng vững lâu dài. Mệt mỏi vì xây dựng đời mình trên cát, họ tìm kiếm tảng đá vững bền. Tuy nhiên, tâm hồn họ vẫn xao xuyến.

 Các nghị phụ của Công đồng Vatican II đã khẳng định trong Hiến chế “Vui mừng và Hy vọng” rằng: những khát vọng cao đẹp nhất cũng như những nỗi sợ hãi đen tối nhất của thời đại phải vang vọng trong tâm hồn người Kitô hữu. Bởi lẽ, người Kitô hữu không xa lạ với bất cứ điều gì thực sự là “của con người”.

Xin cho phép tôi chia sẻ một tiếng vọng như thế đang ngân vang trong tâm hồn tôi.

Cách đây một năm, ngày 8-2-2025, nữ ca sĩ người Mỹ Gracie Abrams đã biểu diễn tại Madrid. Cô là một người trẻ dường như có trong tay mọi điều thuận lợi: xinh đẹp, sung túc và thành công. Tại Madrid, cô mặc một chiếc váy lụa trắng. Đó có thể là chiếc váy cưới, biểu tượng của niềm vui, nếu không có những dải ruy băng đen dài trên vai, như điềm báo của một nỗi buồn - nỗi buồn trở thành trung tâm sứ điệp khi cô bắt đầu cất tiếng hát.

Trong ca từ của cô vang lên một nỗi buồn nhức nhối, chạm ngưỡng - thậm chí có thể chạm đến nỗi tuyệt vọng. Abrams sinh năm 1999. Bài hát Camden của cô mở đầu bằng câu: “I never said it, but I know that I can’t picture anything past 25 (Tôi chưa từng nói điều đó, nhưng tôi biết rằng tôi không thể hình dung ra bất cứ điều gì sau tuổi 25)”.

Ca khúc gợi lên nhu cầu phải che giấu nỗi đau, phải “bury baggage till it’s out of sight (chôn giấu hành lý cho đến khi khuất tầm nhìn)”, trong khi bên ngoài vẫn tỏ ra ổn thỏa, vẫn nói rằng mọi sự đều ổn, với hy vọng có ai đó “notice how I’m trying (để ý thấy tôi đang phải cố gắng như thế nào)”. Điệp khúc như một câu thần chú lặp lại: “All of me, a wound to close, but I leave the whole thing open (Cả con người tôi là một vết thương cần khép lại, nhưng tôi lại cứ để cho nó mở toang ra.”

Phần trình diễn Camden của Gracie Abrams tại Madrid đã được một người hâm mộ ghi hình và đăng lên YouTube với dòng chú thích: “Insane. No words. Cried. Died. Dead. (Quá điên rồ. Không thốt nên lời. Phát khóc. Chết lặng. Chết mất thôi.)”

Hàng ngàn người đã tham dự buổi hòa nhạc ấy. Tất cả cùng hát theo, thuộc lòng từng câu chữ quanh co, như thể biến chúng thành của riêng mình.

Nỗi sầu nhân thế của tuổi trẻ không phải là điều mới mẻ; mỗi thế hệ đều tìm cách biểu lộ nó. Tuy nhiên, tiếng than của thời đại chúng ta mang một sắc thái riêng biệt. Không thể đơn giản coi đó là sự tôn sùng nỗi u uất.

Khi lắng nghe và chứng kiến Abrams cất tiếng hát, người ta không thể nghi ngờ chiều sâu trải nghiệm từ đó tiếng kêu ấy bật lên. Thật ám ảnh khi nghe cả một biển người trẻ tuổi đồng thanh lặp lại, nhịp này nối tiếp nhịp buồn khác: “I just wanted you to know, I was never good at coping. […] I really hope that I survive this (Tôi chỉ muốn cho bạn biết rằng, tôi vốn chẳng hề giỏi việc chống chọi với mọi thứ [...] Tôi thực sự mong mình có thể sống sót qua lần này.)” Liệu từ “hope”, hy vọng, có thích hợp trong hoàn cảnh ấy chăng? Thành thật mà nói, tôi hoài nghi điều đó. Điều nổi bật trong ca từ chính là cảm thức vô vọng trước một mối đe dọa luôn hiện diện.

Người hâm mộ Abrams phần lớn là các thiếu nữ. Có định kiến cho rằng phái mạnh thì khác; họ có xu hướng lầm lì chấp nhận những khắc nghiệt của cuộc đời, sẵn lòng cam chịu chúng với vẻ kiên cường đầy nam tính và với bộ râu rậm rạp. Nhưng bất cứ ai bước ra gặp gỡ giới trẻ, hay dành thời gian trong tòa giải tội, đều hiểu rằng ranh giới ấy không hề rạch ròi. Ý thức về việc mình bị tổn thương đang thấm vào thời đại chúng ta như một làn sương khói mịt mờ.

Thật ấn tượng biết bao khi trải qua Mùa Chay giữa bối cảnh này, để dõi mắt nhìn vào một hình hài tan nát vì đau đớn và khẳng định rằng: hy vọng khởi nguồn từ chính nơi ấy.

Trong nhiều thế kỷ, Giáo hội thận trọng trong việc trình bày các thương tích của cuộc Thương Khó Đức Kitô. Giáo hội bận tâm diễn đạt bằng lời nghịch lý làm nên trung tâm của đức tin Kitô giáo: nơi Đức Kitô, thần tính và nhân tính hiện diện cách toàn vẹn; con người “bởi Đức Trinh Nữ Maria mà sinh ra” cũng chính là “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng”.

Chỉ sau khi Công đồng Chalcedon tinh lọc được khung khái niệm cần thiết để bảo vệ sự quân bình này, tâm thức Kitô giáo mới được tự do phác họa - không chỉ qua ngôn từ mà còn qua nghệ thuật và hình ảnh trực quan - về sự tự nguyện hạ mình của Thiên Chúa làm người.

Thánh giá đã vươn lên trở thành biểu tượng tối cao của Kitô giáo, chiếm vị trí trung tâm trong các nghi thức thờ phượng, ít nhất là tại phương Tây, nơi mà những hình ảnh khắc họa một vị Thiên Chúa mang đầy thương tích đã trở thành tâm điểm của các nhà thờ và các công trình kiến trúc khác, từ đó dần dần định hình nên tâm thức chung của công chúng."

Nhắc lại với các tín hữu Côrintô về lần ngài đến với họ, thánh Phaolô viết:

“Tôi đã không đến để loan báo mầu nhiệm Thiên Chúa bằng những lời lẽ cao siêu hay sự khôn ngoan. Vì tôi đã quyết định không biết điều gì khác giữa anh em ngoài Đức Giêsu Kitô, và là Đức Kitô chịu đóng đinh.”

Vị trí trung tâm tuyệt đối của cuộc Khổ nạn cứu độ nơi Đức Giêsu đã thấm đẫm toàn bộ giáo huấn của vị giảng thuyết vô song này - người luôn rao giảng về sự hòa giải, lòng thương xót, sự biến đổi nhờ ân sủng, niềm vui và sự sống đời đời.

Cần có can đảm để noi gương ngài trong một nền văn hóa đang cám dỗ chúng ta tiếp thị một Tin Mừng “dễ chịu” hơn, có thể dự báo theo những quy trình cố định và kết quả định sẵn.

Xung quanh chúng ta, những gian giáo đường cổ xưa vốn rợp bóng thập tự giờ đây lại được nhường chỗ cho các sân chơi golf mini. Những nơi cung thánh tôn nghiêm bị đem làm sân khấu cho các vở kịch thế tục - một nỗ lực trong tuyệt vọng để chứng tỏ mình 'hợp thời'.

Cùng lúc ấy, cách đó không xa, tại đấu trường thế tục, giới trẻ buồn bã lắc lư theo điệu nhạc, khẽ hát rằng: cuộc đời là một vết thương hở và chẳng còn linh dược nào để chữa lành.

Hai khuynh hướng trái ngược đang đánh dấu những nỗ lực đương đại trong việc đối diện với các vết thương.

Một mặt, người ta sẵn sàng phô diễn những vết thương - dù đó là thực tế, hoặc do di truyền hay do tưởng tượng - để định danh cho chính mình. Họ có thể có những lý do chính đáng, xuất phát từ khát khao đòi lại công bằng. Nhưng theo lời thánh Bernard, ta sẽ đánh mất đi ý chí vươn lên nếu cứ cắm rễ bản ngã vào nỗi đau. Khi ấy, ta có nguy cơ sa lầy trong sự phẫn nộ - một thứ cảm xúc mãnh liệt lấn át khát vọng chữa lành bằng những sự tự mãn về đạo đức cá nhân. Giận dữ và hệ quả của nó là cay đắng có thể giam hãm chúng ta trong một nỗi tuyệt vọng tự mãn cách lệch lạc.

Mặt khác, lại có những nỗ lực muốn xóa nhòa các vết thương. Người ta ám chỉ rằng vết thương không nên tồn tại, và nếu có, thì “chi thể bệnh hoạn” cần bị loại bỏ. Trong những xã hội ngày càng vận hành theo logic trao đổi, các yếu tố bị xem là không hữu dụng hay không “đẹp đẽ” không còn chỗ đứng. Chúng bị coi như những lệch chuẩn, và bị đối xử khắc nghiệt. Thái độ này thể hiện trong các cuộc tranh luận dai dẳng về phá thai và trợ tử, cũng như trong những lời bàn lặp đi lặp lại về ưu sinh. Điều đó được thấy trong những ảo mộng đen tối về một cuộc gột rửa xã hội khỏi những kẻ bị coi là thừa thãi; những người mà giới chính trị gia sẵn sàng giam cầm trong các khu biệt lập, hoặc tống khứ họ xuống tận cùng vực thẳm.

Người ta có thể diễn giải hiện tượng này theo nhiều cách khác nhau. Nhưng thật khó lòng phủ nhận rằng sự lu mờ trong tâm thức công chúng về hình tượng Đấng Chịu Đóng Đinh - một Đấng tuy mang thương tích nhưng chẳng hề bị khuất phục - có liên quan mật thiết đến thực trạng này. Khi một nền văn minh lấy chuẩn mực từ một biểu tượng tôn vinh sự kiên định và ý nghĩa cứu rỗi của khổ đau, nền văn minh ấy sẽ thay đổi. Nó sẽ học được cách đồng cảm, điều mà vốn dĩ không phải là bản năng tự nhiên của một nhân loại sa ngã.

Sự tôn kính các thương tích của Đức Kitô đã định hình cảm thức Kitô giáo suốt nhiều thế kỷ. Điều ấy được diễn tả qua lòng sùng kính các thánh tích cuộc Thương Khó; qua các Chặng Đàng Thánh Giá; qua thi ca và hội họa; qua những tác phẩm âm nhạc từ các khúc Ai ca thời Phục Hưng đến các bản nhạc Thương Khó của Bach và thánh ca thế kỷ XIX.

Nó cũng được thể hiện trong lòng sùng kính Thánh Tâm lan rộng khắp thế giới sau những cơn cuồng nộ cách mạng.

Cốt lõi của vấn đề chính là sự tôn trọng dành cho mầu nhiệm vĩ đại của khổ đau - một yếu tố cấu thành nên thân phận con người như chúng ta hằng biết. Thập giá cho phép chúng ta đối diện thực tại, đồng thời khẳng định rằng các vết thương không có tiếng nói chung cuộc: chúng có thể được chữa lành và trở thành nguồn chữa lành.

Cắm rễ trong mầu nhiệm đức tin ấy là thực hiện một cuộc phản kháng mang tính xây dựng chống lại nhiều ngộ nhận: chống lại ngộ nhận chính trị cho rằng xã hội và nhà nước phải vận hành theo mô hình tiến hóa hướng tới việc tạo ra con người hoàn hảo; chống lại ngộ nhận nhân học về một chuẩn mực “sức khỏe” được dùng để phân định giữa những sự sống “đáng sống” và “không đáng sống”; chống lại ngộ nhận văn hóa gán cho các vết thương một quyền năng định mệnh; và chống lại ngộ nhận tâm lý khi đầu hàng trước tuyệt vọng - trong đêm đen của thương tích thẳm sâu, bị mê hoặc bởi tiếng thì thầm: “Mọi chuyện sẽ cứ mãi như thế này mà thôi.”

Cuộc Thương Khó của Đức Kitô cho phép chúng ta than khóc mà không rơi vào giận dữ. Nó mở ra cho chúng ta lòng trắc ẩn – một phạm trù nhận thức có khả năng chuẩn bị cho một cái nhìn được ân sủng soi sáng như của ông Gióp: “Trước kia con chỉ được nghe nói về Ngài, nhưng nay chính mắt con được thấy Ngài.”

Chúng ta có thể kêu lên cùng Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”

Tin Mừng cho biết các thương tích của Đức Kitô, sau khi Người sống lại, không bị xóa bỏ, nhưng được tôn vinh. Các vết thương của thế giới cũng có thể như thế, khi dầu và rượu của Đức Kitô được đổ trên chúng.

Đối với các tín hữu, Thập giá vừa là biểu tượng vừa là tưởng nhớ một biến cố.

Biểu tượng cuộc Thương Khó của Đức Kitô không do chúng ta tạo ra; đó là hồng ân được trao ban. Chính biểu tượng ấy diễn giải chúng ta, chứ không phải chúng ta diễn giải nó.

Điều này đáng được nhấn mạnh khi chúng ta đang bơi ngược dòng với “chủ nghĩa tư bản biểu tượng” vốn nhắm tới việc “sản xuất tri thức”. Trong thế giới ảo này, “sự kiện” trở thành sản phẩm nhân tạo; các chuyện kể, hình ảnh và dữ liệu bị mua bán để duy trì sự thay đổi liên tục, nhằm thúc đẩy tiêu thụ. Thật khó để vừa hiểu một điều gì đó lại vừa thay đổi nó cùng lúc. Kết quả là, việc kiếm tìm sự minh bạch không còn là ưu tiên trong các cuộc thảo luận xã hội hiện nay, khi mà những lời lẽ sáo rỗng và các biểu tượng hỗn loạn chỉ nhằm mục đích khiến chúng ta thêm phần rối trí.

"Thế nhưng, con người luôn khao khát sự thấu hiểu. Chính nhu cầu được hỏi 'Tại sao?' đã định nghĩa nên bản thể con người.

Họ cần lối tư duy minh triết của Giáo hội và một niềm hy vọng lấy Đức Kitô làm trung tâm. Họ cần cảm thức vững chãi về phương hướng của Giáo hội.

Họ cần những biểu tượng của Giáo hội - những biểu tượng đầy tính hiện thực, khác biệt hoàn toàn với thế gian, bởi chúng tập trung vào một thân xác mang thương tích trong lịch sử, vào sự chết của chính cái chết, và vào định mệnh vĩnh cửu của 'toàn bộ con người, vốn được hợp thành từ cả thể xác lẫn linh hồn'."

Viễn tượng cao cả của đức tin chúng ta đặt nền trên những thực tại đã xảy ra và vẫn đang xảy ra, trong sự hiệp thông của Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô,.

Chúng ta tuyên xưng rằng một Tình Yêu biến đổi đã thấm nhập vào đau khổ nhân loại, ngay cả trong những biểu hiện tột cùng của nó, chạm tới tận cùng sâu thẳm của hỏa ngục; vì thế, không một cảnh hoang tàn nào là chung cuộc.

Đó chính là Tin Mừng của chúng ta. Thời đại chúng ta đang gào thét kiếm tìm Tin Mừng ấy. Những người trẻ mang nặng ưu tư, than thở nơi công viên, đang đói khát Tin Mừng này. Họ sẽ lắng nghe khi thấy đức tin được trình bày đầy thuyết phục bởi những người vừa biết diễn giải, vừa biết sống trọn vẹn chân lý đó mà không hề thỏa hiệp, qua đó cho thấy sức mạnh đầy ân sủng của Đức Kitô có thể chữa lành và biến đổi đời người.

Tại Clairvaux năm 1139, thánh Bernard đã giảng bài cuối cùng của ngài về Thánh vịnh 90 vào đêm vọng Phục Sinh. Bài giảng thấm đẫm niềm hoan lạc của một vận động viên đã hoàn tất cuộc đua.

Ngài cho rằng, đời sống đan sĩ phải là một Mùa Chay liên lỉ, luôn quy hướng về chiến thắng của Đức Kitô trên sự chết. Mùa Chay tỏ lộ chiều hướng căn bản của đời sống chúng ta.

Thánh Bernard nói rõ điều ấy: những thử thách của cuộc đời là cơn đau sinh nở; chúng giúp chúng ta hiểu ‘sống’ có nghĩa là gì: “Chúng ta sống trọn vẹn khi đời ta tràn đầy sức sống và mang lại sự sống.” Chúng ta được sinh ra để sinh hoa trái.

Có một “niềm hy vọng vinh quang” trong gian truân, thánh Bernard nói như thế với các đan sĩ của mình, rồi ngài tự điều chỉnh ngay: Không, vinh quang ở ngay trong gian truân, như hoa trái ở trong hạt giống. Ngài kêu lên: “Anh em thân mến, vinh quang đang ẩn mình trong gian truân; sự vĩnh cửu ẩn mình trong khoảnh khắc hiện tại, một sức nặng cao cả và vô lượng nằm ngay trong sự nhẹ bẫng này.”

Sự đảo ngược đã hoàn tất. Điều đang đè nặng chúng ta hôm nay không có thực chất bền lâu. Sức nặng của vinh quang nâng chúng ta lên cao, hướng về một vinh quang rực rỡ và phong phú.

Khi được nên đồng hình đồng dạng trọn vẹn với sự sống của Đức Kitô, chúng ta sẽ nếm trải niềm vui kiên vững của Thiên Chúa, Đấng phán trong Thánh vịnh 90: “Ta ở cùng ngươi trong cơn gian truân.” Người cũng nói: “Niềm vui của Ta là ở giữa con cái loài người.”

Thánh Bernard đáp lại, “Ôi Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta!” Và ngài nói thêm: “Kính mừng người đầy ơn phúc, Đức Chúa ở cùng người”, qua đó ngài tinh tế phác họa chiều kích Thánh Mẫu của tiến trình trưởng thành Kitô giáo đích thực nhờ ân sủng.

Thiên Chúa biết chúng ta ước mong và khao khát điều gì, điều gì hợp với lòng chúng ta. Chúng ta không được bằng lòng với những điều quá nhỏ bé. Chúng ta phải biết và loan báo rằng mình được dựng nên theo hình ảnh của ai, và nhờ ân sủng, chúng ta có thể vươn tới sự cao cả nào.

Vào buổi sáng sau buổi giảng cuối cùng ấy, thánh Bernard đã lật cuốn Gradual để cất cao bài ca nhập lễ ngày Phục sinh: khúc 'Resurrexi' thanh tao ở cung điệu thứ sáu đầy trang trọng; một sự biểu đạt bằng âm nhạc về một mãnh lực đang trỗi dậy từ chính sự tĩnh tại, sâu trầm.

Tác phẩm phụng vụ này loan báo sự Phục Sinh với niềm kinh ngạc lặng lẽ. Nó nâng lời chúc tụng của Giáo hội trước ngôi mộ trống vào trong vòng tay vĩnh cửu của Chúa Ba Ngôi. Được lôi cuốn trọn vẹn vào vòng tay ấy nhờ chiến thắng Vượt Qua của Đức Kitô, chúng ta sẽ thấy như mình được thấy, biết như mình được biết. Và cuối cùng, chúng ta sẽ yêu thương cách hoàn hảo.

Hiện giờ, chúng ta vẫn chỉ biết và thấy phần nào khi thức canh trong đêm tối. Chúng ta lao động. Chúng ta phục vụ. Chúng ta giảng dạy. Chúng ta chiến đấu khi cần thiết. Chúng ta nỗ lực yêu thương và tôn trọng nhau, mắt luôn hướng về Đức Giêsu, Đấng khai mở đức tin của chúng ta. Người là Chiên Thiên Chúa, là ngọn đèn của chúng ta. Ánh sáng hiền hòa của Người, ngay cả khi ẩn khuất, vẫn tràn đầy hoan lạc.

---

* Đức cha Erik Varden, Giám mục Trondheim, Na Uy, đã được mời giảng Tuần Tĩnh tâm năm 2026 cho Đức Thánh Cha Lêô XIV, cho các Hồng y cư ngụ tại Rôma và các vị đứng đầu các Bộ của Giáo triều Rôma, diễn ra từ Chúa nhật 22-2 đến thứ Sáu 27-2. Đây là đường dẫn đến trang mạng của ngài.

bài liên quan mới nhất

bài liên quan đọc nhiều

Top