Chúa nhật 6 Thường niên năm A (Mt 5,17-37)

Chúa nhật 6 Thường niên năm A (Mt 5,17-37)

Chúa nhật 6 Thường niên năm A (Mt 5,17-37)

Anh em đã nghe luật dạy người xưa.
Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.

Bài đọc 1: Hc 15,15-20

Đức Chúa không truyền cho ai ăn ở thất đức.

Bài trích sách Huấn ca.

15Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn
mà trung tín làm điều đẹp ý Đức Chúa.

16Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước,
con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy.

17Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử,
ai thích gì, sẽ được cái đó.

18Vì trí khôn ngoan của Đức Chúa thật lớn lao,
Người mạnh mẽ uy quyền và trông thấy tất cả.

19Người để mắt nhìn xem những ai kính sợ Người,
và biết rõ tất cả những gì người ta thực hiện.

20Người không truyền cho ai ăn ở thất đức,
cũng không cho phép ai phạm tội.


Đó là lời Chúa.

Đáp ca: Tv 118,1-2.4-5.17-18.33-34 (Đ. c.1b)

Đ.Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời.

1Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện,
biết noi theo luật pháp Chúa Trời.
2Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa,
hết lòng hết dạ kiếm tìm Người.

Đ.Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời.

4Vâng lạy Chúa, Ngài đã ban huấn lệnh,
truyền chúng con tuân giữ vẹn toàn.
5Ước mong sao con hằng vững bước
theo thánh chỉ Ngài ban.

Đ.Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời.

17Xin tỏ lòng nhân hậu cùng tôi tớ Chúa đây
để con được sống và tuân giữ lời Ngài.
18Xin mở mắt cho con nhìn thấy
luật pháp Ngài kỳ diệu biết bao.

Đ.Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời.

33Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ,
con nguyện đi theo mãi đến cùng.
34Xin cho con được trí thông minh
để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ.

Đ.Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời.

Bài đọc 2: 1 Cr 2,6-10

Lẽ khôn ngoan Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

6 Thưa anh em, điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này, là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong. 7 Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển. 8 Lẽ khôn ngoan ấy, không một ai trong các thủ lãnh thế gian này đã được biết, vì nếu biết, họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá. 9 Nhưng, như đã chép: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.

10 Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa.

Đó là lời Chúa.

 

 

Tin mừng: Mt 5,17-37 

17 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.

18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.

19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.

20 “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21 “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà.

22 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt.

23 Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24 thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.

25 Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục.

26 Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.

27 “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình.

28 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.

29 Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục.

30 Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

31 “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị.

32 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, bất cứ ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

33 “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa.

34 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa.

35 Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả.

36 Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được.

37 Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”

Bài giảng Chúa nhật tuần 6 mùa Thường niên năm A (2020) | Linh mục Ignatiô Hồ Văn Xuân

Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 6 Thường niên năm A

WHĐ (10/02/2026) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của lễ Chúa nhật 6 Thường niên năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 577-582: Chúa Giêsu và Lề Luật

Số 1961-1964: Luật cũ

Số 2064-2068: Mười Điều Răn trong Truyền thống của Hội Thánh

Bài Ðọc I: Sir 15,16-21

Bài Ðọc II: 1Cor 2,6-10

Phúc Âm: Mt 5, 17-37

Số 577-582: Chúa Giêsu và Lề Luật

Số 577. Khởi đầu Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đưa ra một giáo huấn long trọng trong đó Người trình bày Lề luật, đã được Thiên Chúa ban tại Sinai dịp Giao Ước đầu tiên, dưới ánh sáng của ân sủng của Giao Ước Mới:

“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môisen hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành, và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (Mt 5,17-19).

Số 578. Chúa Giêsu, Đấng Messia của Israel, do đó là người lớn nhất trong Nước Trời, đã phải chu toàn Lề luật, khi tuân giữ toàn bộ Lề luật, theo chính lời Người nói, cho đến cả những điều răn nhỏ nhất. Nói cho đúng, chính Người là Đấng duy nhất đã có thể làm điều này một cách trọn hảo[1]. Những người Do Thái, theo chính họ thú nhận, đã không bao giờ có thể chu toàn trọn bộ Lề luật mà không vi phạm một điều răn nhỏ nhất nào[2]. Vì vậy trong lễ Xá Tội hằng năm, con cái Israel cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho những lỗi phạm Lề luật của họ. Thật vậy, Lề luật tạo thành một tổng thể và, như thanh Giacôbê nhắc nhở, “ai tuân giữ tất cả Lề luật, mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng thành người có tội về hết mọi điểm” (Gc 2,10)[3].

Số 579. Những người Pharisêu rất trọng nguyên tắc tuân giữ toàn bộ Lề luật, không những chỉ theo văn tự, mà cả theo tinh thần nữa. Khi nêu nguyên tắc đó cho Israel, họ đã dẫn đưa nhiều người Do Thái thời Chúa Giêsu tới việc hết sức nhiệt thành giữ đạo[4]. Điều này, nếu không bị phá huỷ do việc xét đoán mọi sự cách “giả hình”[5], thì nhất định đã chuẩn bị cho dân hướng tới sự can thiệp chưa từng thấy của Thiên Chúa, là việc thi hành trọn vẹn Lề luật sẽ được hoàn thành bởi Đấng Công Chính duy nhất thay cho mọi tội nhân[6].

Số 580. Việc chu toàn Lề luật cách trọn hảo chỉ có thể được thực hiện bởi Đấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, là Ngôi Con, được sinh ra dưới Lề luật[7]. Nơi Chúa Giêsu, Lề luật không còn được ghi trên bia đá nữa, nhưng “vào lòng dạ” và “vào tâm khảm” (Gr 31,33) của Người Tôi Trung, là người, vì đã “trung thành làm sáng tỏ công lý” (Is 42,3), nên được đặt làm “Giao Ước với dân” (Is 42,6). Chúa Giêsu chu toàn Lề luật cho đến độ đảm nhận trên mình “lời nguyền rủa của Lề luật”[8] mà những ai “không bền chí thi hành tất cả những gì được chép trong sách Luật” đã chuốc lấy[9], bởi vì Đức Kitô đã chịu chết “mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời Giao Ước Cũ” (Dt 9,15).

Số 581. Trước mắt người Do Thái và các nhà lãnh đạo tinh thần của họ, Chúa Giêsu xuất hiện như một “kinh sư”[10]. Người thường tranh luận về cách giải thích Lề luật của các kinh sư[11]. Nhưng đồng thời, Chúa Giêsu tất yếu phải đối đầu với những tiến sĩ Luật bởi vì khi trình bày cách giải thích của mình, Người không tự giới hạn trong những cách giải thích của họ; “vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29). Nơi Người, cùng một Lời của Thiên Chúa đã từng vang lên trên núi Sinai để ban hành Lề luật được ghi khắc cho ông Môisen, nay lại vang dội trên núi Bát Phúc[12]. Đấng là Ngôi Lời không bãi bỏ, nhưng kiện toàn Lề luật, bằng cách đưa ra lời giải thích tối hậu với một uy quyền thần linh: “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng…. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết” (Mt 5,33-34). Chính Người, với cùng một thẩm quyền thần linh ấy, phủ nhận một số “truyền thống của người phàm”[13] (Mc 7,8) của nhóm Pharisêu, vì những truyền thống đó hủy bỏ Lời Thiên Chúa[14].

Số 582. Đi xa hơn nữa, Chúa Giêsu còn kiện toàn Lề luật về sự thanh sạch của các thức ăn, một điều hết sức quan trọng trong cuộc sống hằng ngày của người Do Thái, khi Người cho thấy ý nghĩa “quản giáo” của luật ấy[15] bằng lời giải thích thần linh: “Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế…. Như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch…. Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu” (Mc 7,18-21). Khi lấy thẩm quyền thần linh mà đưa ra lời giải thích tối hậu về Lề luật, Chúa Giêsu ở trong tình thế đối nghịch với một số kinh sư không chấp nhận lời giải thích của Người, mặc dù lời giải thích này được củng cố bằng những dấu lạ thần linh kèm theo[16]. Điều này đặc biệt đúng, trong vấn đề ngày sabat. Chúa Giêsu thường dựa trên chính lập luận của các kinh sư[17], để nhắc nhở rằng luật nghỉ ngơi ngày sabat không bị vi phạm khi phục vụ Thiên Chúa[18] hay phục vụ người lân cận[19], như trường hợp các lần Người chữa lành.

Số 1961-1964: Luật cũ

Số 1961. Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá và Đấng Cứu Độ của chúng ta, đã chọn Israel như dân riêng của Ngài, và đã mạc khải cho họ Lề Luật của Ngài và như vậy chuẩn bị cho cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Luật Môisen diễn tả nhiều chân lý mà lý trí có thể đạt tới một cách tự nhiên. Người ta gặp được các chân lý này được công bố và được chứng thực trong Giao ước cứu độ.

Số 1962. Luật cũ là cấp độ đầu tiên của Lề Luật được mạc khải. Các quy định luân lý của luật cũ được tóm lại trong Mười Điều Răn. Các mệnh lệnh của Mười Điều Răn đặt nền tảng cho ơn gọi của con người, vốn được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Các điều răn đó ngăn cấm những gì nghịch lại tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, và quy định những đòi hỏi căn bản của tình yêu đó. Mười Điều Răn là ánh sáng được ban tặng cho lương tâm của mỗi người, giúp họ nhận ra lời kêu gọi của Thiên Chúa, và những con đường Ngài biểu lộ cho họ, và bảo vệ họ khỏi điều xấu:

“Thiên Chúa đã viết trên các bảng Luật, tất cả những gì mà con người không đọc nổi trong trái tim họ”[20].

Số 1963. Theo truyền thống Kitô giáo, Lề Luật thì thánh thiện[21], thiêng liêng[22], và tốt lành[23], nhưng vẫn chưa trọn hảo. Như một nhà sư phạm[24], luật đó cho thấy điều phải làm, nhưng tự nó không ban sức mạnh, ân sủng của Thần Khí để người ta chu toàn nó. Vì không xóa được tội lỗi, nên luật cũ vẫn còn là luật của tình trạng nô lệ. Theo thánh Phaolô, luật cũ có nhiệm vụ tố cáo và vạch trần tội lỗi, vì tội lỗi tạo ra thứ “luật của dục vọng”[25] trong trái tim con người. Tuy nhiên, Lề Luật vẫn là chặng đầu tiên trên con đường dẫn đến Nước Trời. Nó chuẩn bị và giúp dân Chúa chọn và mỗi Kitô hữu sẵn sàng để hối cải và tin vào Thiên Chúa Cứu Độ. Với tính cách là lời của Thiên Chúa, Luật cũ đem lại đạo lý tồn tại đến muôn đời.

Số 1964. Luật cũ là một sự chuẩn bị nào đó cho Tin Mừng. “Lề Luật là môn sư phạm và lời tiên báo về các điều sẽ đến”[26]. Luật cũ nói tiên tri và báo trước công trình giải phóng khỏi tội lỗi sẽ được hoàn thành với Đức Kitô, cung cấp cho Tân Ước những hình ảnh, “những tiên trưng”, những biểu tượng, để diễn tả đời sống theo Thần Khí. Cuối cùng, luật được kiện toàn bởi đạo lý của các sách khôn ngoan và các Tiên Tri, các vị này quy hướng luật cũ tới Giao ước Mới và Nước Trời.

“Dưới chế độ của Giao Ước Cũ, nhiều người đã có được đức mến và ân sủng của Chúa Thánh Thần và mong chờ những lời hứa thiêng liêng và vĩnh cửu. Và nhờ đó, họ đã được liên kết với Luật mới. Ngược lại, trong thời Giao Ước Mới, lại có những con người vẫn sống theo xác thịt, chưa đạt tới sự trọn hảo của Luật mới, vậy những người trong thời Giao Ước Mới này phải được dẫn tới các công việc nhân đức bằng sự sợ hãi các hình phạt, và bằng những lời hứa trần thế nào đó. Dù Luật cũ có dạy các điều răn của đức mến, nhưng Chúa Thánh Thần không được ban xuống nhờ luật đó, mà nhờ Chúa Thánh Thần, ‘Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta’ (Rm 5,5)”[27].

Số 2064-2068: Mười Điều Răn trong Truyền thống của Hội Thánh

Số 2064. Trung thành với Sách Thánh và theo gương Chúa Giêsu, Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.

Số 2065. Từ thời thánh Augustinô, “Mười Điều Răn” đã có một vị trí quan trọng trong việc dạy giáo lý cho dự tòng và tín hữu. Vào thế kỷ XV, Mười Điều Răn quen được diễn tả bằng những công thức tích cực, theo văn vần, dễ nhớ, vẫn còn thông dụng ở nhiều nơi tới ngày nay. Các sách giáo lý của Hội Thánh thường trình bày luân lý Kitô giáo theo thứ tự của “Mười Điều Răn”.

Số 2066. Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng thời gian. Sách Giáo Lý này dựa theo cách phân chia của thánh Augustinô đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công giáo. Các hệ phái Luther cũng theo cách phân chia này. Các Giáo phụ Hi lạp phân chia hơi khác; cách phân chia đó còn gặp thấy trong các Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải cách.

Số 2067. Mười Điều Răn nêu ra các đòi hỏi của lòng mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều răn sau, đến tình yêu đối với người lân cận.

“Cũng như Chúa đã đúc kết tất cả Lề Luật và các Tiên tri vào trong hai điều răn của lòng yêu mến..., thì cũng vậy, Mười Điều Răn được ban trong hai bảng. Ba điều được khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia”[28].

Số 2068. Công đồng Triđentinô dạy rằng: các Kitô hữu buộc phải giữ Mười Điều Răn, và người đã được công chính hóa cũng có bổn phận phải tuân giữ các điều răn ấy[29]. Công đồng Vaticanô II cũng khẳng định: “Các Giám mục vì là những vị kế nhiệm các Tông Đồ, nhận từ nơi Chúa... sứ vụ dạy dỗ muôn dân và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, để mọi người được cứu độ nhờ đức tin, Phép Rửa và việc chu toàn các Điều Răn”[30].

 

BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA - CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Thường niên năm A (12/02/2023) - Sống hoàn thiện như thế nào?

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Thường niên năm A (16/02/2020) - Lề luật như một công cụ tự do

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Thường niên năm A (12/02/2017) - Chớ giết người, ngoại tình, thề thốt

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 6 Thường niên năm A (16/02/2014) - Nhận biết điều gì đang diễn ra trong lòng mình

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 6 Thường niên năm A (16/02/2014) - Đức Giêsu đến để kiện toàn lề luật

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 6 Thường niên năm A (13/02/2011) - Chu toàn các giới răn với tình yêu của Thiên Chúa

 

Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

Suy niệm: Lề luật diễn tả ý Thiên Chúa, vì thế sống theo Luật là sống theo Chúa. Thế nhưng Luật Lệ cũng cần được kiện toàn theo hoàn cảnh theo thời gian. Ðức Giêsu tuyên bố rõ rằng: Ngài không phá đổ Luật Cựu Ước. Nhưng Ngài canh tân để bộ Luật sáng chói hơn. Luật Cựu Ước chỉ dừng lại hành động bên ngoài. Còn Luật Ðức Giêsu đòi hỏi đến tận nguồn gốc của hành động, nguyên nhân thúc đẩy hành động. Vì thế Luật Ðức Giêsu đòi hỏi khắt khe hơn và buộc người ta phải hoán cải tận căn rễ của sự tội.

Cầu nguyện: Lạy Cha, người đời thường nói: Lòng đầy thì miệng mới thốt ra. Xin Cha giúp chúng con mang đầy những tâm tình tốt, để lời nói, hành động của chúng con mang dấu chứng của một tâm hồn trong sáng. Qua con người của chúng con là biểu hiện hình ảnh sống động của một Thiên Chúa tình yêu. Xin Thánh Thần của Ðức Giêsu thánh hóa, và cầu bầu cho chúng con. Amen.

Ghi nhớ: “Người xưa đã bảo như thế, còn Ta, Ta bảo thật các con thế này”.

Suy niệm (Lm I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1: Hc 15,15-20

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Huấn ca của ông Ben Xi-ra, một thân hào ở Giê-ru-sa-lem, một kinh sư từ thuở thiếu thời đã tỏ ra tha thiết mến yêu và miệt mài với luật Mô-sê, một con người luôn ưu tư về tiền đồ của Do-thái giáo và muốn đối phó với nguy cơ Hy-lạp một cách lâu bền và hữu hiệu. Để bảo vệ gia sản tôn giáo và văn hoá của dân tộc, không gì bằng trình bày trong một tác phẩm, quan điểm đúng đắn về Thiên Chúa, về thế giới và về ơn gọi của Ít-ra-en, cho mọi người xác tín rằng Bộ Luật mặc khải hàm chứa sự khôn ngoan đích thực, dân Do-thái chẳng có gì phải thèm khát chạy theo một nền văn minh ngoại giáo, đó là nền văn minh Hy-lạp, và đó cũng là mục tiêu ông Ben Xi-ra nhắm tới khi viết sách Huấn ca.

2. Trở lại bài đọc 1 hôm nay, ông Ben Xi-ra mời chúng ta suy nghĩ về sự tự do của con người gồm ba điểm sau đây : thứ nhất, cái xấu ở bên ngoài con người ; thứ hai, con người được tự do chọn lựa làm điều tốt hay làm điều xấu ; thứ ba, chọn điều tốt cũng là chọn hạnh phúc.

Thứ nhất, cái xấu ở bên ngoài con người, nghĩa là cái xấu không thuộc bản tính tự nhiên của con người chúng ta, đó là một tin vui trọng đại, vì nếu cái xấu thuộc bản tính tự nhiên của con người chúng ta, thì chúng ta không có một chút hy vọng được cứu độ, vì chúng ta không bao giờ có thể diệt trừ cái xấu được, như là quan niệm của người Ba-by-lon chẳng hạn. Trái lại, Kinh Thánh lạc quan hơn, quả quyết cái xấu ở ngoài con người. Thiên Chúa không làm nên cái xấu, và không thúc đẩy chúng ta làm điều xấu. Do đó Người không chịu trách nhiệm về cái xấu chúng ta đã làm. Đó là ý nghĩa của câu cuối cùng trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe : “Chúa không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội.” Vài câu trước bài đọc 1 hôm nay, ông Ben Xi-ra viết như sau : “Con đừng nói : ‘Tại Đức Chúa mà tôi phạm tội.’ Đừng nói : ‘Chính Người làm tôi lầm đường lạc lối.’”

Nếu Thiên Chúa tạo dựng nên ông A-đam là một sinh vật vừa có phần tốt vừa có phần xấu như người Ba-by-lon tưởng tượng, thì cái xấu là thành phần trong bản tính của chúng ta. Nhưng Thiên Chúa chỉ là tình yêu và cái xấu hoàn toàn xa lạ với Người. Câu chuyện sa ngã của hai ông bà nguyên tổ, ông A-đam và bà E-và mà sách Sáng thế kể lại, được viết nhằm giúp mọi người hiểu rằng cái xấu ở bên ngoài con người, bởi vì nó được ma quỷ dưới hình con rắn đưa vào, và lan tràn khắp thế gian kể từ khi con người không còn tin Thiên Chúa nữa. Ta tìm thấy một lời quả quyết tương tự trong thư thánh Gia-cô-bê : “Khi bị cám dỗ, đừng ai nói : ‘Tôi bị Thiên Chúa cám dỗ, vì Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai.” Hay nói cách khác, cái xấu hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa, Người không thể thúc đẩy ai phạm tội. “Nhưng mỗi người có bị cám dỗ, là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt” (Gc 1,13-17).

3. Thứ hai : con người được tự do chọn lựa cái xấu và cái tốt. Dân Ít-ra-en dần dần mới hiểu được điều này, nhưng trong Kinh Thánh thì rất rõ ràng ngay từ đầu. Thiên Chúa tạo dựng nên con người tự do. Để cho sự xác tín này lớn dần nơi dân tộc Ít-ra-en, họ cần phải trải nghiệm hành động giải thoát của Thiên Chúa qua nhiều giai đoạn trong lịch sử của họ, khởi đầu kinh nghiệm giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập mà vào đêm thứ Bảy Vọng Phục Sinh chúng ta đều tưởng niệm việc này, cách riêng trong bài đọc trích sách Xuất hành chương 15, tất cả niềm tin của Ít-ra-en đều phát sinh từ kinh nghiệm lịch sử này : Thiên Chúa là Đấng giải thoát, và dần dần người ta hiểu rằng điều ngày hôm nay ta hiểu biết, đã có ngay từ lúc Chúa sáng tạo vũ trụ càn khôn và con người. Vì thế ta có thể kết luận rằng Thiên Chúa tạo dựng con người tự do.

Để hướng dẫn con người trong việc chọn lựa, Thiên Chúa ban cho Lề Luật của Người. Sách Đệ nhị luật nhấn mạnh : “Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên trời, khiến anh em phải nói : ‘Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành ?’ Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh em phải nói : ‘Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành ?’ Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,11-14).

4. Thứ ba : chọn điều tốt là chọn hạnh phúc. Ta đọc lại bản văn : “Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì sẽ được cái đó. Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy”, hay nói cách khác, khi trung thành với Thiên Chúa, con người sẽ tìm được hạnh phúc thật ; còn khi xa lìa Thiên Chúa, thì sớm hay muộn gì, con người sẽ gặp bất hạnh. Ta có thể nói một cách cụ thể là con người thường xuyên đứng trước một ngã tư : hai con đường mở ra trước họ : một con đường dẫn đến sự sáng, niềm vui, sự sống ; phúc cho những ai đi theo con đường này. Con đường khác là con đường của đêm đen, của tối tăm, chỉ mang lại buồn phiền và chết chóc ; vô phúc cho những ai chạy theo con đường lầm lạc đó. Chúng ta nhớ lại câu chuyện của ông A-đam và bà E-và trong vườn Ê-đen xưa, việc chọn lựa sai lầm dẫn đến chỗ diệt vong.

Chủ đề hai con đường thường được triển khai trong Kinh Thánh, cách riêng trong sách Đệ nhị luật : “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em : hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ. Hôm nay tôi truyền cho anh em phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ của Người để anh em được sống. Anh em hãy chọn sống để anh em và dòng dõi anh em được sống, nghĩa là hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nghe tiếng Người và gắn bó với Người” (Đnl 30,15-20). Dứt khoát không bao giờ chúng ta là tù nhân, ngay cả sau khi chúng ta có những chọn lựa không phù hợp, vì qua bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được ghép vào Ðức Giê-su Ki-tô, là Ðấng luôn ban ơn trợ giúp để chúng ta trở lại đường ngay nẻo chính. Bởi đó ta gọi Người là Ðấng Cứu Ðộ, có nghĩa là Ðấng giải thoát khỏi vòng cương toả của tội lỗi. Là những người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được Chúa Giê-su Ki-tô ban thêm sức mạnh tinh thần để sống cuộc đời ngay thẳng, đẹp lòng Chúa.

 

2. Đáp ca : Tv 118

1. Thánh vịnh 118 hoàn toàn là một tiếng dội của bài đọc 1 trích từ sách Huấn ca. Thánh vịnh chính là suy niệm kéo dài của bài đọc 1. Ý tưởng chính được triển khai là nhân loại chỉ tìm được hạnh phúc khi đặt trọn niềm tin vào Chúa và tuân giữ các điều răn của Người. Nỗi bất hạnh và cái chết sẽ tóm lấy con người ngay khi họ không còn tin tưởng Chúa nữa, nghi ngờ Chúa và các điều răn của Người là bước vào một con đường không có lối thoát, dẫn đến sự diệt vong. Đó là trường hợp của ông A-đam và bà E-và mà sách Sáng thế đã kể lại. Trong thánh vịnh này, ta thấy lại chủ đề hai con đường mà bài đọc 1 đã đề cập, hai con đường luôn mở ra trước mắt chúng ta, một con đường dẫn ta tới hạnh phúc, một con đường đưa ta tới bất hạnh.

2. Theo thánh vịnh 118, hạnh phúc thì rất đơn giản. Đối với một người tín hữu, con đường chắc chắn dẫn tới hạnh phúc là tuân giữ Lề Luật của Chúa : “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp Chúa Trời.” Người tín hữu cảm thấy hạnh phúc khi trung thành tuân giữ các điều răn của Chúa, đây là điều mà thánh vịnh 118 muốn nói với tất cả chúng ta.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng không phải tới lúc có Tân Ước người ta mới biết Thiên Chúa là Tình Yêu và Lề Luật không có gì khác hơn là dẫn đưa con người đi trên con đường tình yêu. Toàn bộ Kinh Thánh là bài học về sự tập sự của dân Chúa chọn để sống tình yêu này. Sách Đệ nhị luật nói : “Hãy nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4), và sách Lê-vi tiếp tục : “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18). Sau này, Chúa Giê-su ráp hai điều răn này thành một, đã là mến Chúa thì phải yêu người. Có thể nói, Người đã tóm tắt Luật của Do-thái giáo.

 

3. Bài đọc 2:    1 Cr 2,6-10

Chúa nhật tuần trước, thánh Phao-lô đối chọi sự khôn ngoan của loài người với sự khôn ngoan của Thiên Chúa ; hôm nay, thánh Phao-lô tiếp tục triển khai chủ đề này với một ý tưởng mới : Vâng, việc công bố mầu nhiệm của Thiên Chúa là một sự điên rồ đối với loài người, nhưng qua đó thánh Phao-lô muốn đề cập đến một sự khôn ngoan cao quý hơn, đó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa : “Điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian ... Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa.” Do đó chúng ta phải chọn lựa : sống theo sự khôn ngoan của thế gian, sống theo tinh thần thế gian, hay sống theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Hai sự khôn ngoan này hoàn toàn đối chọi nhau. Ta tìm thấy chủ đề này trong bài đọc 1 trích từ sách Huấn ca và thánh vịnh 118, chủ đề về hai con đường. Con người chúng ta đứng trước ngã tư của hai con đường và phải chọn lựa đường đi thích hợp : một con đường dẫn đến sự sống, dẫn đến ánh sáng, dẫn đến hạnh phúc ; một con đường khiến ta chìm đắm trong bóng tối, cái chết.

“Sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa được giữ kín” : một trong những quả quyết quan trọng của Kinh Thánh là con người ta không thể biết hết về mầu nhiệm của sự sống và sự sáng tạo của Thiên Chúa, càng biết ít hơn nữa về chính mầu nhiệm Thiên Chúa. Đó là giới hạn của con người chúng ta, như sách Đệ nhị luật nói : “Có những điều Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, giữ kín cho mình ; nhưng những điều này, được mặc khải cho chúng ta và con cháu chúng ta đến muôn đời, để chúng ta đem ra thực hành những lời của Luật dạy” (Đnl 29,28). Điều đó muốn nói rằng : Thiên Chúa biết tất cả mọi sự, nhưng chúng ta chỉ biết những gì Chúa mặc khải cho chúng ta, bắt đầu bằng Lề Luật là chìa khoá giúp ta hiểu tất cả những phần khác.

“Lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển.” Thánh Phao-lô nhấn mạnh nhiều lần trong các bức thư của ngài là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời và kế hoạch không hề thay đổi.

“Cho chúng ta được vinh hiển” : Thông thường thì vinh quang là một ưu phẩm của Thiên Chúa và chỉ dành cho một mình Người mà thôi. Ơn gọi Ki-tô hữu của chúng ta là tham dự vào vinh quang của Thiên Chúa. Kiểu nói này của thánh Phao-lô cho ta thấy ý định nhân hậu của Thiên Chúa : kế hoạch của Thiên Chúa là tập họp toàn thể nhân loại trong Đức Giê-su Ki-tô và cho ta tham dự vào vinh quang của Ba Ngôi Thiên Chúa.

 

4. Bài Tin Mừng:     Mt 5,17-37

1. Chúng ta cùng nhau suy niệm mấy điểm trong bài Tin Mừng khá dài chúng ta vừa nghe :

Đức Giê-su đến trần gian để kiện toàn Luật Mô-sê. Lời nói trên đây của Chúa Giê-su cho ta thấy mối tương quan và lập trường của Chúa Giê-su và Cựu Ước. Những câu này rất quan trọng, cho thấy chính Người là Đấng Mê-si-a phải đến và dân Ít-ra-en đang mong đợi. Người là đích điểm của lịch sử dân Chúa, là ý nghĩa của tất cả Sách Thánh Cựu Ước, nơi Người, mọi lời Thiên Chúa hứa và tiên báo qua các ngôn sứ đều được thực hiện. Người có quyền chính thức giải thích ý của Thiên Chúa về tất cả những gì Thiên Chúa đã phán và đã thực hiện trong quá trình mặc khải cho đến bây giờ. Kiện toàn ở đây có hai nghĩa : Chúa Giê-su đưa Luật tới ý nghĩa hoàn hảo, ý nghĩa thật sự, ý nghĩa cánh chung của Lề Luật, đồng thời Chúa Giê-su thực hiện những lời tiên báo của các ngôn sứ về cánh chung.

Một chấm, một phết trong Lề Luật không phải là những dấu để phân câu trong câu văn, mà phải hiểu đó là chữ nhỏ nhất trong mẫu tự Do-thái (chữ Giốt) và những nét nhỏ như cái chấm để phân biệt chữ này với chữ khác. Chúa Giê-su dùng hình ảnh này để nói lên tầm quan trọng đích thực của mọi luật vì đó là ý muốn của Thiên Chúa, mà đã là ý muốn của Thiên Chúa thì không có gì là nhỏ bé, tầm thường.

“Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu”, trước hết phải hiểu công chính do tin vào Chúa Giê-su (ơn Chúa), sau đó mới đến ăn ở theo lòng tin đó (nghĩa luân lý, đạo đức). Không phải chỉ tránh sống đạo hình thức kiểu các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu, mà hơn nữa, cho dù trong các kinh sư, Pha-ri-sêu cũng có những người sống theo luật Mô-sê cách thật tình, thì từ đây sống như vậy không đủ để được hạnh phúc, bởi vì Đấng Mê-si-a đã đến. Từ đây phải tin vào Người, sống như Người dạy mới vào được Nước Trời. Từ đây tất cả phải được Ki-tô hoá.

 

2. Đức Giê-su đưa ra bốn phản đề : những kiểu nói phản đề đưa ra những trường hợp điển hình về sự công chính mới, sự công chính được kiện toàn như thế nào. Điều luật cũ vẫn còn nhưng Chúa Giê-su đòi luật đó phải đi sâu vào nội tâm và kiểm soát cả đến ước vọng và những động lực thầm kín nhất của con người.

2.1. Đừng giận ghét : Luật dạy người xưa rằng : “Chớ giết người, ai giết người thì đáng bị đưa ra toà.” Còn Chúa Giê-su dạy rằng ai mắng nhiếc, chửi rủa anh em mình thì đáng bị phạt rồi. Vấn đề giải quyết bất hoà với tha nhân quyết định giá trị của việc thờ phượng. Người ta thường dễ quan tâm đến bổn phận thờ phượng, mà lơ là bổn phận tha thứ và yêu thương. Để của lễ lại là kiểu nói diễn tả ý muốn giảng hoà, tha thứ. Không được hiểu sát chữ mà hoãn việc thờ phượng, vịn lẽ chưa dàn xếp xong. Làm như vậy là dấu không sẵn sàng giảng hoà. Việc thờ phượng là lý do thúc bách phải sớm tha thứ.

2.2. Chớ ngoại tình : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình.” Còn Chúa Giê-su dạy : “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” Ta phải hiểu thế nào về móc mắt, chặt tay ? Thưa, đây là những kiểu nói mạnh.

2.3. Đừng ly dị : Ở đây Chúa Giê-su thắt chặt lại khoản luật lỏng lẻo của Cựu Ước. Trường hợp ngoại trừ ở đây không phải là ly dị vì ngoại tình …

2.4 Đừng thề thốt : Có nghĩa là nói đúng sự thật khách quan ; bụng nghĩ sao, miệng nói vậy, thành thật ; nhắc lại tiếng có hoặc tiếng không để quả quyết hoặc phủ nhận điều mình nói cách trịnh trọng (kiểu Do-thái). Nếu là trường hợp thứ tư này, Chúa có ý nói : không cần thề thốt, tức là nại đến điều linh thánh, chỉ cần quả quyết một cách nghiêm chỉnh là đủ.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, để được vào Nước Trời, mỗi người chúng con phải đặt trọn niềm tin vào Chúa và sống theo lời Chúa dạy trong Tin Mừng. Xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con luôn tin yêu Chúa giữa muôn vàn thử thách của cuộc đời.

Tự vấn :

Chúng ta thử xét mình xem chúng ta đã sống lời Chúa như thế nào trong cuộc sống đức tin thường ngày ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Hãy để cho lề luật kiện toàn chính chúng ta”

(Mgr. L. Daloz trong “Nước Trời đến gần”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 51).

“Đức Giê-su kiện toàn lề luật bằng cách trả lại cho nó tất cả sự trong sáng của lời Thiên Chúa, khi nhấn mạnh đến điều cốt lõi : “Ta muốn lòng nhân chứ không phải hy tế.” Khi được hỏi về giới răn trọng nhất, Người không do dự trả lời rằng toàn bộ Lề Luật và Ngôn Sứ đều quy về giới răn trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như chính mình (x. 22,34-40). Chính Người đã kiện toàn giới răn cao cả ấy bằng cách tự hiến đời mình. Phần các môn đệ, kiện toàn Lề Luật khác hẳn việc tuân thủ các mệnh lệnh. Đúng hơn, chính Lề Luật kiện toàn ta, đưa ta đi đến cùng. Có thế mới đáng để ta tuân giữ từ giới răn nhỏ bé nhất – thậm chí cho tới một nét phẩy – không phải vì tỉ mỉ hay cầu toàn, nhưng vì tự hiến hoàn toàn, mở lòng trọn vẹn, để lời của Thiên Chúa thấm nhập và biến đổi tận đáy lòng ta, và biến ta nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo. Đây không phải là sự nô lệ mà là tình nguyện. Nó không bao giờ kết thúc vì ta luôn bất toàn. Đây là sự rèn luyện trường kỳ về tính sáng suốt và lòng can đảm. Trước tiên, đây là một hồng ân, một ân huệ của Thiên Chúa, Đấng muốn và thực hiện nơi ta điều đó. Đây chính là tác phẩm của Chúa Thánh Thần, Đấng đến để sản sinh trong ta những hoa trái của Người, như vậy kiện toàn Lề Luật là ghi khắc nó vào tận đáy lòng ta …”

 

2. “Sự cấp tiến của Bài Giảng Trên Núi”

(J. Guillet, “Đức Giê-su trong niềm tin của các môn đệ tiên khởi”, Desclée de Brouwer, 1995).

Tính cấp tiến này không hề nệ luật. Điều hay nhất của bài giảng là không có thêm một điều khoản bổ túc, một đòi buộc mới nào. Nhưng lại không cho phép bất cứ ai tự tin mình đã đạt đến sự công chính cao siêu cả. Nó bắt mọi môn đệ tự do tưởng tượng, tiến xa hết mức trong việc phục vụ và trong tình yêu tha nhân. Giới luật đặc thù của Tin Mừng luôn có tính tích cực. Tại chỗ mà luật cũ mang tính tương đối và hạn định một giới hạn không thể vượt qua : “Ngươi không được giết người, không được phạm tội ngoại tình” thì Đức Giê-su lại công thức hoá chúng theo đường hướng tích cực : trước hết, hãy đi làm hoà đã, hãy móc mắt phải mà ném đi. Ta phải biết nhận ra nguyên lý nền tảng đàng sau những phóng đại quen thuộc theo kiểu nói “phương đông” : anh không được đặt giới hạn cho tình huynh đệ, cho việc tôn trọng phụ nữ.

 

3. “Cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất từ trước đến nay”

(H. Denis “100 từ nói lên niềm tin”, Desclée de Brouwer, 1993, tr. 101-102).

Bạn có biết Thập Giới không ? Có lẽ bạn có thể đọc thuộc Mười Điều Răn bằng văn xuôi hay văn vần, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng hơn, đó là biết được điều Đức Giê-su đã làm đối với Thập Giới. Ta có thể nói với Người rằng Lề Luật, không bị huỷ bỏ, nhưng được thăng tiến để được kiện toàn. Nói cách khác, ta cũng phải để ý kẻo khi vượt lên Lề Luật, ta lại khinh thường nó bằng cách bám víu vào đó như Đức Giê-su chưa từng kiện toàn nó vậy.

Với cái nhìn này, Bài Giảng Trên Núi có lẽ là cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất của mọi thời. Một con người, một vị ngôn sứ, một sứ giả của Thiên Chúa dám nói lên những lời chưa từng nghe : “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng ; còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.” Vị Giê-su này vượt trên cả Lề Luật.

Bạn hãy thử tưởng tượng xem. Luật dạy người xưa. Luật ở đây là ai ? Thật đơn giản, đó chính là Thiên Chúa của Cựu Ước, Đấng đã ban Lề Luật. Vì thế mà đối với người Do-thái, không ai có thể vượt hơn Lề Luật, hơn được Lời Thiên Chúa đã trao ban một lần cho đến muôn đời được.

Vậy mà, có một người đã dám vượt trên Lề Luật, bạn hãy lần lượt xét kỹ từng giới răn rồi sẽ thấy, quả thật, khi đã biết Đức Giê-su là ai rồi, người ta sẽ thấy các giới răn thiêng liêng này thật tương đối so với một điều cao cả hơn nhiều là nhận ra Tình Yêu được biểu tỏ nơi Đức Giê-su, Con Chúa Cha.

“Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.” Có lẽ các bạn đã biết đây là một trong ba luận cứ mà thần học đã rút ra từ Tin Mừng, coi như để mặc khải thiên tính của Đức Giê-su (một Đức Giê-su, may thay, không bao giờ tự xưng : Ta là Thiên Chúa, nhưng “Anh em bảo Thầy là ai ?”). Các bạn cũng biết hai luận cứ kia là gì rồi. Thứ nhất đó là việc gọi Thiên Chúa là Cha, người Cha (Áp-ba) thân thương thật sự. Sau đó là lời yêu sách quá quắt : “Mọi tội con đã được tha”, chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi.

Bạn thấy Lề Luật được kiện toàn này đưa ta đến đâu. Vào những lúc nghi nan, hay những giây phút mỏi mòn vì phải trung thành với Lề Luật, bạn hãy nhớ đến sự can đảm ấy của Đức Giê-su : “Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.”

Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)

CÒN THẦY, THẦY BẢO ANH EM…

 

Người Do-thái coi trọng Luật Chúa đã ban cho ông Môsê,

từ núi thánh Xinai, giữa mây mù, khói lửa và sấm chớp (Xh 19,16-19).

Ông Môsê được Chúa sai làm người phát ngôn cho Ngài.

Ông có đủ thẩm quyền để giải thích Luật Chúa cho dân Ítraen,

vì ông là người đã lên núi gặp Chúa, đã nhận Luật chép trên bia đá,

và đã ở lại trên núi bốn mươi ngày đêm (Xh 24,18; Đnl 9,9).

 

Tuy nhiên, Đức Giêsu hẳn làm các môn đệ ngỡ ngàng

khi Ngài tuyên bố: Anh em đã nghe ông Môsê nói như thế này

với dân Ítraen ngày xưa, để giải thích cho họ về Luật Chúa.

Ngày nay, Thầy cho anh em một cách giải thích khác về Luật.

Hãy sống theo giáo huấn mới mẻ của Thầy.

Quả thật, Đức Giêsu có uy quyền hơn ông Môsê nhiều.

Môse chỉ là một thụ tạo gần gũi Thiên Chúa trong một thời gian,

Còn Đức Giêsu là Con Một luôn ở trong lòng Thiên Chúa Cha (Ga 1,18).

Vì thế Ngài biết rõ và truyền đạt trung thành ý muốn của Thiên Chúa.

 

Thầy không đến để bãi bỏ Luật mà Thiên Chúa đã ban qua ông Môsê,

Thầy đến để kiện toàn, và làm cho Luật ấy được nên trọn (Mt 5,17).

Đức Giêsu đã kiện toàn Luật Môsê bằng những đòi hỏi nội tâm.

Ngài không ngừng lại ở hành vi bên ngoài,

Ngài đòi chúng ta đi vào bên trong trái tim mình.

Không giết người bằng gươm dao, chưa đủ.

Còn cần tránh cả sự giận dữ vốn là cội rễ của tội sát nhân (1 Ga 3,15),

hơn nữa cần tránh cả những lời nói nhục mạ kẻ khác (Mt 5,21-23).

Không ngoại tình với vợ người khác, chưa đủ.

Còn cần tránh cả ngoại tình trong cái nhìn thèm muốn chiếm đoạt,

đó là thứ ngoại tình không ai biết, vì nằm tận trong tim (Mt 5,28).

 

Đức Giêsu còn đưa ra những đòi hỏi tận căn về việc giữ Luật.

Ngài đòi để lễ vật lại trước bàn thờ để đi làm hòa với anh em,

không phải với người anh em mà chính mình đang bất hòa,

nhưng với người anh em đang gây cho mình nhiều rắc rối.

Phải làm hòa trước đã, rồi mới dâng lễ sau (Mt 5,23-24).

Hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa đòi hiệp thông trước với anh em.

Bằng lối nói cường điệu, Đức Giêsu đòi người môn đệ

phải dứt khoát tránh dịp tội, tránh cớ làm cho mình sa ngã.

Thà bỏ đi một phần quý giá như mắt phải hay tay phải,

còn hơn là  toàn thân phải chịu hư mất đời đời (Mt 5,29-30).

Chúng ta không nên hiểu câu nói trên theo nghĩa đen,

nhưng lại không được quyền làm yếu đi sức mạnh của hình ảnh ấy.

 

Đức Giêsu đã dám đưa ra một giải thích khác với Môse về ly dị.

Ngài không coi ly dị là chuyện được phép.

Người đàn ông thời đó có nhiều tự do để ly dị vợ,

lắm khi chỉ vì một lý do cỏn con.

Ngài cho thấy mình biết rõ ý định ban đầu của Thiên Chúa (Mt 19,4),

nên Ngài cương quyết bảo vệ tính bất khả phân ly của hôn nhân.

 

Bài Giảng trên Núi của Đức Giêsu vẫn có tính thời sự,

vì chạm đến những vấn đề nóng bỏng ngày nay của chúng ta:

thù hận, giết người, ngoại tình, ly dị, thiếu trung thực…

Chỉ khi sống những giáo huấn của Đức Giêsu một cách nghiêm túc,

chúng ta mới giải quyết được những vấn đề lớn của thế giới.

Chỉ khi để cho tình yêu thấm vào mọi tương quan,

chúng ta mới thực sự là người mở lòng đón lấy Nước Trời.

 

 CẦU NGUYỆN

 

Lạy Chúa Giêsu,

Xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,

nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,

dễ thấy Chúa hiện diện

và hoạt động trong đời con.

 

Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,

xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,

khép kín và nghi ngờ.

 

Xin dạy con sự hiền hậu

để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.

 

Xin dạy con sự khiêm nhu

để con dám buông đời con cho Chúa.

 

Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,

vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,

hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau.

 

Suy niệm (Lm Nguyễn Vinh Sơn, SCJ.)

Câu chuyện

Một bà đạo đức áy náy vì một vài tật xấu bà đã cố gắng hết sức mà vẫn không chừa được.

Bà đến than thở với cha linh hướng. Ngài nói: “Con có để ý thấy không vào mùa đông lá sồi rụng nhiều, nhưng vẫn còn vài chiếc. Gió đông thổi mạnh cũng không làm chúng rụng xuống. Nhưng khi mùa xuân đến, chúng tự động rụng, nhường chỗ cho lá non nảy lộc. Vậy cái gì làm cho chúng rơi rụng ? Thưa đó là sự sống mới lưu chuyển trong thân cây. Với chúng ta cũng vậy, khi sự sống mới của Đức Kitô nảy nở trong đời sống, ta sẽ mau thăng tiến trên đường đạo đức”.

Suy niệm

Ngay từ thời xa xưa, Thiên Chúa đã ban cho con người luật pháp, phát triển và hoàn thiện dần trong lịch sử cứu độ.

Công trình hoàn thiện luật được theo một tiến trình phát triển được Chúa mạc khải sơ khởi phông nền với các tổ phụ đặc biệt là Môisê qua mười điều răn, được các ngôn sứ phát triển và được chính Con Thiên Chúa - Đức Giêsu Kitô hoàn thiện.

Thật thế, trong Đức Giêsu Kitô, Giáo huấn của Ngài làm nên luật Kitô giáo: Tân ước hoàn thành các Lề Luật đã được mặc khải sơ khởi mà ta gọi là Luật Do Thái giáo: Cựu ước. Tân ước là một chồi non làm sinh hoa kết trái nhưng được nuôi từ gốc và bằng nhựa của cây ô liu cũ tức “Cựu ước”, để làm cho cây sinh ra nhiều quả (x. Rm 11,17-24). Chính Đức Giêsu là Đấng đã được loan báo và chuẩn bị cả ngàn năm mong đợi của dân Do Thái khi chờ đón Đấng Cứu Thế, Đấng đến cứu họ được tự do và để kiện toàn Luật và lời các ngôn sứ đã loan báo trước làm hoàn thành toàn bộ Kinh Thánh với hai phần rõ rệt: Tân ước và Cựu ước.

Luật cũ cho ta ý niệm Do Thái là dân được tuyển chọn phải sống qua mười điều răn, là những hướng dẫn con người cách thức mến Chúa và yêu người bằng cách chỉ rõ thánh ý Chúa đối với thái độ và hành động trong đời sống thường nhật.

Các kinh sư và biệt phái giữ luật rất đúng, nhưng giữ “luật vì luật” và kiên định tới mức trở thành câu nệ hình thức cứng nhắc, khắt khe: Luật là cứu cánh. Cách sống của họ trong tư cách bậc thầy và mô phạm làm cho mọi người nghĩ rằng đức công chính chỉ gói gọn trong việc chu toàn Lề Luật: Tất cả vì luật. Chúa Giêsu lên án cách giữ luật hình thức, vì thế biệt phái và luật sĩ đã liệt Ngài vào hạng tội lỗi, khi cho rằng Ngài có thái độ coi thường, bất tuân luật thánh, cụ thể trong việc giữ ngày Sabát (x. Lc 6,8-11;13,14;14,1-6;6,1-2…). và các nghi thức thanh tẩy trước khi ăn (x. Lc 11,38). Họ cho rằng: Ngài muốn phá bỏ Lề Luật, nhưng Chúa Giêsu tuyên bố: “… đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môisê hoặc lời các ngôn sứ Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17).

Luật lệ tự nó tốt nhưng không hoàn hảo. Lề Luật luôn là phương tiện chứ không phải là cứu cánh, như Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Ngày Sabát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabát” (Mc 2,27). Chúa Giêsu đến để kiện toàn thái độ và áp dụng tinh thần của luật là dẫn đến tình thương. Cho nên, Luật của Đức Kitô hoàn thiện và “trội hơn” Luật cũ, khi Đức Giêsu đề nghị không chỉ sống... theo Luật nhưng sống theo Luật với ân sủng và tình yêu. Chúa Giêsu mời gọi không dừng lại ở những việc làm vụ hình thức mà phải “công chính hơn” tới mức hoàn thiện “như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

Trong tinh thần luật vì con người như Chúa Giêsu nói: “Con người làm chủ ngày Sabát” (Lc 6,9), Chúa Giêsu tiến xa và hoàn thiện Luật, sự hoàn thiện đó đã thiết lập Luật mới, khi Ngài dạy hãy biến “ách nặng nề, nô lệ” của Luật cũ thành “sự tự do vui thỏa” trong Chúa Thánh Thần. Đừng câu nệ chỉ ở nơi chữ viết ràng buộc nhưng cảm nghiệm sâu xa từ trái tim mình chủ đích của Luật Chúa. Chúng ta thấy rõ minh họa đầu tiên qua “mối tương giao huynh đệ”: Thập giới truyền bảo “ngươi không được giết người' ? Còn Chúa Giêsu, đi đến cùng đích đòi hỏi của Lề Luật, khi tuyên bố rằng, việc không phạm tội sát nhân: chưa đủ, mà còn phải loại bỏ nỗi oán hận và giận hờn khỏi lòng mình nữa: “Các con hãy nghe người xưa dạy rằng: “Không được giết người… còn Ta, Ta bảo thật bất cứ ai phẫn nộ với anh chị em mình, thì sẽ bị phạt nơi tòa án…” (Mt 5,21-22). Thật thế, trong sự hoàn thiện của Luật, không chỉ giết người mới được coi là phạm Luật, phải ra toà mà ngay cả thái độ giận dữ, hay buông lời nhục mạ anh em, đã được coi là vi phạm Luật. Và có ý muốn ngoại tình là đã phạm tội ngoại tình trong tư tưởng rồi (x. Mt 5,27). Thậm chí chưa tích cực giải hòa với một người anh em đã gây căng thẳng, bất bình, cũng coi như là phạm Luật, không còn quyền dâng của lễ cho Thiên Chúa. Cho nên Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để lễ vật lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Chúa Giêsu đến để làm trọn Lề Luật trong tinh thần của luật yêu thương, có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích Lề Luật rắc rối bên ngoài làm cho con người trở nên vụ lợi và hình thức mà Chúa Giêsu đã kết án: “Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha” (Mt 23,13-36).

Chúa Giêsu hoàn thiện Luật khi không dừng lại, quanh quẩn ở luật pháp mà vượt qua luật, Ngài dẫn đưa nhân loại đi tới Tin Mừng đem hạnh phúc tình thương cho con người. Chính bài giảng bát phúc trình bày tính cách vĩnh cửu của luật pháp mà Ngài hoàn thiện.

Xin Chúa thổi tình yêu của Ngài vào trong cuộc sống chúng ta, để khi tuân giữ mọi giới răn Đạo Chúa, mọi giáo huấn của Giáo hội Chúa Kitô, chúng ta giữ Luật Chúa không chỉ vì sợ và tỏ lòng kính tôn, nhưng thực thi với tinh thần của tình yêu như thánh Âugustinô nhấn mạnh trọng tâm của Luật Chúa là tình yêu: “Hãy yêu mến Chúa rồi làm điều bạn muốn” (Ama et fac quod vis).

Ý lực sống

Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13,10).

Top