Phân tích
Chúa Giêsu và Biệt phái tranh luận nhau về việc sống ngày Sabát:
Biệt phái chỉ biết giữ luật nghỉ ngơi ngày Sabát. Nên khi họ thấy các môn đệ của Chúa Giêsu bứt lúa trong ngày này thì họ lên án.
Chúa Giêsu hiểu luật Sabát nhằm giải phóng con người, nên trách Biệt phái đã quá câu nệ mặt chữ của luật mà không hiểu tinh thần.
Suy gẫm
1. Ngày Chúa Nhật, nếu tôi chỉ biết nghỉ việc và đi Lễ thì chưa chắc tôi đã "thánh hóa" ngày đó theo đúng ý muốn của luật Giáo Hội. Tôi còn phải yêu mến Chúa nhiều hơn và quan tâm đến anh em tôi hơn.
2. Nếu tôi giữ luật chỉ vì đó là luật thì việc giữ luật của tôi không đem lại lợi ích thực sự nào cho tôi mà lại thêm nặng nề khó chịu. Nếu tôi buộc người khác giữ luật chỉ vì đó là luật thì cũng chẳng có ích lợi gì cho người khác, trái lại càng làm cho người khác khổ sở thêm.
3. “Con người là chủ của ngày hưu lễ”: Chúa Giêsu là chủ của ngày Chúa Nhật. Giữ ngày Chúa Nhật, tôi có quy hướng mọi sự về Chúa Giêsu không?
4. “Con người làm chủ ngày Sabát” (Lc 6,5)
Hồi bé, tôi luôn phải nghe đi nghe lại điệp khúc: “Nghỉ chơi đi lễ, lễ xong về chơi chẳng muộn.” Vâng, tôi đã đi lễ, nhưng đi một cách miễn cưỡng. Giáo Hội thật “ác”, đặt ra bao điều phải theo.
Bây giờ tôi đến với Thánh lễ không phải vì những luật lệ, theo những “điệp khúc” hồi bé, nhưng bằng chính tấm lòng, bằng sự khao khát của con tim, của tâm hồn muốn có được sự bình an vĩnh cửu. Nghĩ lại, tôi thầm cám ơn Chúa vì những luật lệ trong Hội Thánh.
Lạy Chúa, xin cho con đến với Chúa không phải vì lề luật đòi buộc, nhưng với cả tấm lòng một người con.
5. Về triết gia Đavít Hume của Anh vào thế kỷ 18, người ta kể một giai thoại như sau: Một hôm, có một quận công hỏi ông:
- Theo ông thì đối tượng của luật pháp là gì?
Đavít Hume trả lời:
- Đó là để phục vụ cho lợi ích lớn nhất của số lớn nhất.
Quận công hỏi lại:
- Thế thì theo ông số lớn nhất là gì?
Triết gia đáp:
- Số lớn nhất là số một.
Đây là thực tế thường xảy ra trong luật pháp của nhiều quốc gia: số lớn nhất thường chỉ là một thiểu số. Luật pháp được làm ra không phải để phục vụ mọi người, mà chỉ nhắm đến quyền lợi của thiểu số mà thôi.
Vào thời Chúa Giêsu, không thiếu những người nhân danh luật pháp để triệt hạ và chối bỏ người khác. Truyện được ghi trong Tin Mừng hôm nay là một điển hình cho biết bao trường hợp nhân danh luật pháp để đè bẹp con người. Chúa Giêsu đã thách thức cho đến cùng thái độ như thế. Thật ra, Chúa Giêsu không phải là một con người sống ngoài luật pháp. Ngài đến để kiện toàn lề luật. Nhưng sở dĩ Chúa Giêsu chống lại luật pháp là bởi vì luật pháp đó phi nhân hoặc chối bỏ con người. Các môn đệ vì đói nên bứt bông lúa mà ăn, thật ra không phải là vi phạm ngày Hưu lễ; nếu có thì chỉ là vi phạm một trong 39 hành động mà các nhà chú giải Do thái đã thêm vào qui định của ngày Hưu lễ mà thôi.
Hơn nữa, Chúa Giêsu đã dẫn chứng hành động của vua Đavít và Ngài khẳng định: hành động của các môn đệ không hề vi phạm ngày Hưu lễ. Lề luật vì con người, chứ không phải con người vì lề luật. Đó là ý nghĩa của luật pháp mà Chúa Giêsu nêu bật trong cuộc tranh luận với những Biệt phái. Khi luật pháp chống lại con người, nghĩa là chối bỏ phẩm giá và quyền lợi cơ bản của con người, thì luật pháp đánh mất ý nghĩa và không còn lý do để hiện hữu nữa; trong trường hợp đó, dĩ nhiên không tuân hành luật pháp là một thái độ thích đáng.
Thật ra, khi luật pháp chối bỏ hoặc chà đạp những quyền cơ bản của con người, thì luật pháp đó cũng xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Thánh Phêrô và thánh Gioan đã hành động một cách cương quyết khi dõng dạc tuyên bố trước Công nghị Do Thái: “Thà vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người.” Chẳng hạn, khi luật pháp một quốc gia cho phép phá thai, nghĩa là tước đoạt quyền sống của con người, thì chống lại luật pháp đó là một nghĩa vụ. “Thà vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người” đó là nguyên tắc nền tảng hướng dẫn người Kitô hữu trong các quan hệ xã hội của họ. Chúa Giêsu luôn đòi hỏi các môn đệ Ngài một thái độ dứt khoát tận căn: không thể vừa vâng lời Thiên Chúa, vừa chạy theo những gì chống lại Thiên Chúa.