III. Bác ái trong chân lý: sức mạnh điều hướng sự phát triển đích thực
Có thể nói điều mới mẻ mà Caritas in veritate đem tới chính là chỉ cho ta thấy: trọng tâm của giáo huấn Giáo Hội về xã hội là Bác ái cần được thực thi trong chân lý. Bác ái trong chân lý là sức mạnh điều hướng chính yếu cho sự phát triển đích thực mỗi người và toàn thể nhân loại (số 1). Thiên Chúa của Kitô giáo vừa là logos vừa là agape, cho nên tình yêu gắn liền với chân lý (số 3). Phải liên kết bác ái với chân lý, nếu không, hoặc chúng ta rơi vào chủ nghĩa duy cảm (đánh mất nội dung xã hội và tương giao) hoặc chạy theo chủ nghĩa duy tín (đánh mất chiều kích nhân văn và vũ trụ): “Chỉ trong chân lý, bác ái mới có thể chiếu toả và được sống cách đúng đắn” (số 3). Đây là vấn đề lớn trong thế giới hôm nay khi con người có khuynh hướng tương đối hoá chân lý, có khi còn phủ nhận sự hiện hữu của chân lý tuyệt đối và khách quan.
Bác ái phải đi đôi với sự thật. Sự thật ở đây là chính thực tế và những gì đang diễn ra trong thực tế. Không thể chỉ dựa vào những thành quả đạt được mà phủ nhận thực tế này : tình trạng nghèo đói của một phần lớn nhân loại, sự chênh lệch giàu nghèo, sự phá huỷ môi trường sống…Ngoài ra sự thật nền tảng mà Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh là sự thật về con người, cho nên ngài khẳng định: “Vấn đề xã hội ngày nay đã trở thành vấn đề nhân học ở căn để “(số 75). Chính quan niệm lệch lạc hoặc quá đơn giản về con người đã đưa sự phát triển đến chỗ lệch hướng. Ẩn bên trong những phê phán của Đức Bênêđictô XVI về tài chính, chính trị, kỹ thuật….là quan niệm về con người. Ví dụ : con người của thế giới kỹ thuật chỉ biết đặt câu hỏi “Làm sao, làm thế nào?” mà không quan tâm đến câu hỏi “Tại sao?” trong khi câu hỏi đó mới định hướng cho hoạt động của con người (số 70). Chính cái nhìn toàn diện về con người đòi hỏi phải tôn trọng những giá trị đạo đức trong mọi lãnh vực của đời sống cá nhân và xã hội. Những giá trị này được xây dựng trên một nền đạo đức nhìn nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của nhân vị và giá trị siêu việt của luật luân lý tự nhiên. Một nền đạo đức mà không nhìn nhận hai cột trụ này, chắc chắn có nguy cơ đánh mất ý nghĩa riêng của đạo đức và làm mồi cho những hình thức lạm dụng, có khi còn là phương thế biện minh cho những dự án phi đạo đức (số 45). Cho nên người ta có thể nói nhiều đến đạo đức kinh doanh, đạo đức sinh học, đạo đức chính trị mà có khi chỉ là phi đạo đức vì thiếu sự thật nền tảng về con người.
Để kiếm tìm sự thật về con người, cần có sự tương tác giữa các ngành tri thức : “Sự hiểu biết của con người không đầy đủ, và những kết luận của khoa học ở tự nó không thể dẫn đến sự phát triển con người toàn diện… Đứng trước tính chất phức tạp của vấn đề, rõ ràng các ngành khoa học khác nhau phải cùng cộng tác theo hướng trao đổi liên ngành… Giáo huấn xã hội của Giáo Hội có một chiều kích liên ngành quan trọng, cho phép đức tin, thần học, siêu hình học và khoa học tìm được vị trí của mình trong sự cộng tác để phục vụ con người” (số 30 và 31). Cũng ở đây, cần thấy mối tương quan giữa đức tin và lý trí. Đức tin không lý trí có nguy cơ xa rời cuộc sống thường ngày, đồng thời, lý trí mà không có đức tin có nguy cơ rơi vào ảo tưởng về sự toàn năng của kỹ thuật (số 74).
IV. Bác ái trong chân lý: nguyên tắc hướng dẫn mọi lãnh vực của đời sống
1. Đời sống kinh tế
Đức Bênêđictô XVI khai triển suy tư về hiện hữu nhân sinh như một quà tặng, từ đó ngài nói đến thứ lôgích của quà tặng. Bên cạnh lô-gích của thị trường (cho đi để có lại) và lô-gích của Nhà Nước (cho đi vì bổn phận), phải có chỗ cho lô-gích của quà tặng dựa trên nguyên lý nhưng không (principe de gratuité) : “Để chiến thắng tình trạng chậm phát triển, đòi hỏi phải có hành động không những làm cho tốt hơn hoạt động hoán chuyển dựa trên việc trao đổi sản phẩm và thiết lập những cơ cấu phục vụ phúc lợi chung, nhưng nhất là phải từ từ mở ra ở tầm vóc toàn cầu những hình thức hoạt động kinh tế được đánh dấu bằng tính nhưng không và tính xã hội” (số 39). Ngoài ra, để vận hành cách đúng đắn, kinh tế cần đến đạo đức, không phải bất cứ thứ đạo đức nào nhưng là nền đạo đức thân hữu với nhân vị (số 45), nền đạo đức tôn trọng phẩm giá con người và luật tự nhiên. Cũng thế, phải tôn trọng môi sinh vì thiên nhiên là quà tặng Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người : “Thiên nhiên nằm trong tầm tay sử dụng của chúng ta không phải như ‘một đống đối tượng được tung rải cách ngẫu nhiên’ nhưng như là quà tặng của Đấng Sáng tạo” (số 48). Do đó, “Việc sử dụng môi trường đặt chúng ta trước một trách nhiệm đối với người nghèo, với thế hệ tương lai và với toàn thể nhân loại (số 48).
2. Cộng đồng chính trị
Để tiến đến sự phát triển toàn diện, nhân loại phải hợp tác với nhau như một gia đình : “Một trong những hình thức nghèo đói nhất mà con người có kinh nghiệm, đó là sự cô lập”. Thay cho sự cô lập đó, nhân loại cần “nhận thức mình là một gia đình duy nhất, cùng làm việc chung với nhau trong mối hiệp thông đích thực, chứ không chỉ đơn thuần là một nhóm người tình cờ sống kề cận bên nhau” (số 53). Chính trong tinh thần hợp tác này, thông điệp bàn đến nhiều vấn đề như sự tôn trọng các tôn giáo và các nền văn hoá, áp dụng nguyên tắc bổ trợ và liên đới, viện trợ, du lịch…Cũng trong tinh thần hợp tác, thông điệp đưa ra đề nghị cải tổ Liên Hiệp Quốc cũng như những cơ cấu kinh tế và tài chính quốc tế : “Để hướng dẫn kinh tế thế giới hòng chữa trị các nền kinh tế bị thiệt hại vì khủng hoảng, để báo trước sự gia tăng tệ hại của cuộc khủng hoảng và từ đó đưa đến sự bất bình đẳng, để thực hiện việc giảm thiểu hoàn toàn vũ khí, để tiến đến việc bảo đảm lương thực và hoà bình, để điều chỉnh việc bảo vệ môi trường và dòng người di tản, cần phải có một thẩm quyền thế giới về mặt chính trị” (số 67)
3. Kỹ thuật
Sự phát triển như vũ bão của kỹ thuật khiến nhiều người nghĩ rằng chỉ cần kỹ thuật là đủ và dần dần hình thành nền văn hoá kỹ trị, đồng hoá cái “thật” với cái “có thể làm ra” (số 70). Thực ra, kỹ thuật là nỗ lực của tinh thần muốn vươn lên trên những giới hạn của vật chất, là sự đáp trả của con người trước mệnh lệnh của Thiên Chúa trao cho con người (St 2,15). Chính vì thế, kỹ thuật cũng cần đến đạo đức : sự phát triển kỹ thuật chỉ có thể đem đến phát triển đích thực khi nó đi kèm theo những quyết định đúng đắn về mặt đạo đức (70). Tiêu chuẩn này cần được quan tâm đặc biệt trong lãnh vực sinh học cũng như trong việc xây dựng hoà bình, sử dụng các phương tiện truyền thông (số 70-74).
Kết luận
Trên đây chỉ là một vài ghi nhận mở đầu về một số tư tưởng chủ đạo trong thông điệp Caritas in veritate. Những tư tưởng này cần được triển khai sâu rộng hơn và áp dụng vào từng lãnh vực của đời sống cá nhân cũng như xã hội, đặc biệt trong Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam. Nếu Đề Cương về Giáo Hội tại Việt Nam trình bày ba chiều kích mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ, thiết nghĩ Caritas in veritate là tài liệu quý báu cho Giáo Hội Việt Nam trong việc suy tư, định hướng và sống sứ vụ của mình.
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm